Phát biểu tại buổi lễ, Phó Chủ tịch UBND phường Hồng Hà Nguyễn Hải Đăng nhấn mạnh: Cách đây 1.986 năm, vào năm 40 sau Công nguyên, trước sự áp bức, bóc lột của chính quyền đô hộ nhà Hán, Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa, hiệu triệu hào kiệt và nhân dân khắp nơi đứng lên chống giặc. Trong thời gian ngắn, nghĩa quân đã giành thắng lợi vang dội, giải phóng 65 thành trì, buộc thái thú Tô Định phải tháo chạy.
Sau thắng lợi, Trưng Trắc được suy tôn làm vua, lấy hiệu Trưng Nữ Vương, đóng đô tại Mê Linh, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ đầu tiên sau hơn hai thế kỷ bị đô hộ.
Lên ngôi được 3 năm, vào năm 43 sau Công nguyên, quân giặc lại tràn sang đất nước ta một lần nữa, Hai Bà Trưng tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân và nhân dân chống giặc. Tương truyền, ngày mùng 6 tháng hai năm Quý Mão, sau khi quyết chiến với kẻ thù, quyết không để sa vào tay giặc, Hai Bà đã gieo mình xuống sông Hát tuẫn tiết.
Khí phách của Hai Bà kết thành tượng đá, theo dòng nước trôi xuôi đến bãi Đồng Nhân. Dân làng Đồng Nhân khi xưa đã lấy vải đỏ làm lễ rước tượng vào bờ.
Năm 1142, vua Lý Anh Tông truyền lập đền thờ Hai Bà Trưng ngay tại bờ sông. Đến năm 1819 do bến sông sạt lở, đền thờ Hai Bà Trưng được chuyển đến thôn Hương Viên (nay là quần thể di tích quốc gia đặc biệt đền - chùa - đình Hai Bà Trưng). Tuy nhiên, tại bến sông nơi phát hiện tượng của Hai Bà, một số người dân vẫn tiếp tục sinh sống và xây dựng lại ngôi miếu thờ tưởng nhớ Hai Bà – là miếu Hai Bà Trưng tại số 680 Bạch Đằng (phường Hồng Hà hiện nay). Miếu Hai Bà Trưng được xếp hạng Di tích lịch sử, Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia ngày 5/2/1994.
Theo truyền thống, ngày mùng 5/2 âm lịch hằng năm được lấy làm ngày cấp thủy. Năm năm một lần, người dân nơi đây sẽ tổ chức Lễ hội truyền thống rước nước vào ngày này. Nhân dân rước kiệu từ đền Đồng Nhân về miếu Hai Bà Trưng, dừng kiệu tại miếu, đem đôi chóe xuống thuyền rồng bơi ra giữa dòng sông Hồng lấy nước. Sau khi làm lễ tại miếu Hai Bà Trưng, nước lại được rước về đền Đồng Nhân (thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt đền - chùa - đình Hai Bà Trưng) để làm lễ Mộc dục (lễ tắm tượng).
Ông Nguyễn Hải Đăng nhấn mạnh, trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, hình ảnh và công lao to lớn của Hai Bà Trưng luôn được nhân dân đời đời tưởng nhớ, khắc ghi.
Hàng năm, lễ hội được tổ chức long trọng với nhiều nghi lễ truyền thống, nhằm cầu quốc thái dân an, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc, đồng thời thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương về dâng hương, chiêm bái, tri ân công đức Nhị vị Vua Bà.