Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương: Sẽ chú trọng nội địa hóa chuỗi cung ứng

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định 165/QĐ-TTg ngày 28/2/2023 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030.

Theo Đề án này, Chính phủ đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30% vào năm 2030. Đảm bảo cân đối cung cầu về năng lượng với tỷ lệ tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP giảm 1 - 1,5%/năm.

de an tai co cau nganh cong thuong se chu trong noi dia hoa chuoi cung ung hinh 1

Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam là nước có nền công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp cao. (Ảnh TK)

Duy trì thặng dư cán cân thương mại với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu luôn cao hơn nhập khẩu và tăng bình quân khoảng 6 - 8%/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 13,0 - 13,5%/năm.

Đề án đề ra tái cơ cấu ngành công nghiệp, ngành năng lượng, lĩnh vực xuất nhập khẩu, tái cơ cấu thị trường trong nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, tái cơ cấu ngành công nghiệp kết hợp hài hòa giữa phát triển công nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, khai thác triệt để thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và lợi thế thương mại để tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng nội địa của sản phẩm.

Phấn đấu tốc độ tăng năng suất lao động công nghiệp đạt bình quân 7,5%/năm, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 8,5 - 9%/năm. Tập trung phát triển hoàn chỉnh hệ thống sản xuất công nghiệp trong nước thông qua việc nâng cấp và phát triển chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của các ngành công nghiệp.

Đồng thời chú trọng nội địa hoá chuỗi cung ứng các ngành công nghiệp để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tăng cường tính tự chủ, nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Xanh hóa các ngành công nghiệp, đảm bảo sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên và năng lượng trong các ngành công nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu nội ngành công nghiệp từ các ngành thâm dụng tài nguyên, lao động sang các ngành thâm dụng vốn và công nghệ, các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp các bon thấp; từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực.

Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP khoảng 30% với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 9 - 10%/năm; tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Đề án nhấn mạnh tới phát triển sản phẩm công nghệ cao, ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo thông minh là bước đột phá nhằm hình thành năng lực sản xuất mới gắn liền với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đi tắt, đón đầu trong phát triển một số ngành, sản phẩm.

Tập trung phát triển các sản phẩm công nghiệp quốc gia dựa vào công nghệ mới, công nghệ cao và các ngành kinh tế sáng tạo, chú trọng phát triển sản phẩm công nghệ cao, trọng tâm "Make in Viet Nam", sáng tạo tại Việt Nam, thiết kế tại Việt Nam, tích hợp thành sản phẩm thương mại tại Việt Nam.

 Đối với công nghiệp hỗ trợ, đề án cho rằng, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm phục vụ các ngành công nghiệp xuất khẩu lớn như: điện tử, ô tô, dệt may, da giày, cơ khí, công nghệ cao… và tăng cường khả năng đáp ứng các quy tắc về nguồn gốc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do (FTA).

Phấn đấu đến năm 2030, công nghiệp hỗ trợ đáp ứng 70% nhu cầu sản xuất trong nước.Tăng cường làm chủ công nghệ cốt lõi, tạo dựng thương hiệu Việt Nam, sử dụng công nghệ Việt Nam và gắn kết hiệu quả với mạng lưới chuyên gia, trí thức Việt Nam ở nước ngoài...

Đề án ưu tiên phát triển xuất khẩu các mặt hàng có quy mô xuất khẩu lớn, lợi thế cạnh tranh cao (điện tử, dệt may, da giày, nông sản, đồ gỗ...) gắn với đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu.

Gia tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa có hàm lượng chế biến sâu, công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, tỷ lệ nội địa hoá lớn, đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng và phát triển bền vững của các thị trường, giảm dần xuất khẩu đối với khoáng sản quan trọng kể cả dưới dạng tinh quặng.

Với nhóm hàng nông, lâm, thủy sản, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và thương hiệu hàng hóa của Việt Nam. Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hướng mạnh vào chế biến sâu, chất lượng cao và các sản phẩm công nghệ cao. Nâng cao khả năng đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội, môi trường, phát thải cacbon thấp và lao động.

Đồng thời, tiếp tục mở rộng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo để khai thác có hiệu quả tiềm năng thị trường gắn với chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, có tỷ lệ nội địa hoá lớn và đáp ứng tiêu chuẩn cao về tiêu chuẩn chất lượng và phát triển bền vững của các thị trường.

Nâng cao thị phần xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước. Phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghiệp chế biến chế tạo lên khoảng 90%, trong đó tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ trung bình và cao tăng lên khoảng 70%.

Xem thêm

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

Lũ quét gây thiệt hại nặng nề, Nepal chật vật tìm nguồn lực phục hồi

(CLO) Trận lũ quét thảm khốc gần đây đã gây thiệt hại khoảng 5 tỷ USD cho Nepal, tương đương một phần mười tổng sản lượng kinh tế hằng năm. Con số này đang tạo thêm áp lực lớn lên nền kinh tế vốn phụ thuộc nhiều vào kiều hối và vẫn chưa hoàn toàn vượt qua những tổn thất từ trận động đất năm 2015.

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

Mở “luồng xanh tăng trưởng” cho doanh nghiệp: Nguồn lực phải đến đúng nơi có năng lực, có khả năng tạo giá trị

(NB&CL) Muốn tăng trưởng hai con số, nguồn lực phải đến đúng nơi có đơn hàng, có năng lực và có khả năng tạo thêm giá trị. 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tăng 8,18%, nhưng chặng đường tới mục tiêu từ 10% trở lên vẫn còn rất dốc. Theo GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, tăng trưởng chỉ có thể được nâng lên một quỹ đạo mới khi các chính sách hỗ trợ được chuyển thành dòng vốn, mặt bằng, năng lượng, thủ tục và cơ hội thị trường cụ thể cho doanh nghiệp.

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

Năm 2027: Doanh nghiệp Việt đối mặt cuộc 'sàng lọc' mạnh

(CLO) Dù kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều sức ép từ chi phí sản xuất, khả năng tiếp cận vốn đến yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, năm 2027 được dự báo sẽ là giai đoạn doanh nghiệp chịu sự sàng lọc mạnh hơn.

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

Chiến tranh Mỹ - Iran: Ai thắng, ai thua trong cơn địa chấn kinh tế?

(CLO) Trong khi các tập đoàn dầu khí, quốc phòng và ngân hàng hưởng lợi từ giá năng lượng leo thang, nhu cầu vũ khí tăng cao cùng các biến động thị trường, thì người nộp thuế, người nghèo và các ngành phụ thuộc nhiên liệu lại phải gánh chịu phần lớn chi phí của cuộc khủng hoảng.

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

Hơn 1 triệu tỷ đồng đầu tư công, vì sao tiền vẫn chưa “chảy” vào nền kinh tế?

(NB&CL) Hơn 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công đã được bố trí trong năm 2026, nhưng sau 7 tháng, mới giải ngân khoảng 425.300 tỷ đồng. Đằng sau khoảng cách giữa vốn được phân bổ và dòng tiền thực sự đi vào nền kinh tế là hàng loạt điểm nghẽn từ đất đai, giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng đến thủ tục và trách nhiệm thực thi.

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

Người Việt có thể làm chủ ngành công nghiệp của tương lai không?

(NB&CL) Với chủ đề “Để chạm tay vào đích tăng trưởng hai con số”, cuộc trao đổi của Nhà báo và Công luận với ông Bùi Xuân Bình, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc GG Power không chỉ nhìn từ mục tiêu tăng trưởng của năm 2026, mà còn từ câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ phát triển bằng năng lực nào, công nghệ nào và doanh nghiệp (DN) nào trong giai đoạn mới?

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

Đầu tư công phải tạo hiệu ứng lan tỏa, không thể chỉ chạy theo tỷ lệ giải ngân

(NB&CL) TS. Nguyễn Quốc Việt cho rằng, đầu tư công không thể chỉ được đánh giá bằng tỷ lệ giải ngân mà quan trọng hơn là hiệu quả sử dụng vốn và khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cho nền kinh tế. Theo ông, cần tránh tư duy chạy theo tiến độ, đồng thời gắn trách nhiệm giải trình với chất lượng và tác động thực tế của từng dự án.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Cần kiên định để tạo bước chuyển mới

Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Cần kiên định để tạo bước chuyển mới

(NB&CL) Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và đặc biệt là cải thiện năng lực thực thi.

FDI vào Việt Nam tăng tốc: Năm 2027 có thể hút 50-55 tỷ USD

FDI vào Việt Nam tăng tốc: Năm 2027 có thể hút 50-55 tỷ USD

(CLO) Dựa trên số liệu thực tế của năm 2026, đánh giá tác động của các yếu tố trong nước và quốc tế, TS Nguyễn Anh Tuấn dự báo nguồn vốn FDI năm 2027 vào Việt Nam có thể phát triển theo 3 kịch bản. Trong đó, kịch bản tích cực nhất, Việt Nam có thể thu hút 55 tỷ USD.

Cỡ chữ bài viết: